Khi bà Lưu Thị Hoàng Anh đến giao dịch thì ông Thơm cho biết: Nguồn gốc hai lô đất trên là của Công ty Hồng Lan, trụ sở 287 Khâm Thiên, Đống Đa, Hà Nội trúng thầu. Ngày 23-2-2004, ông Thơm mua của Công ty Hồng Lan giá 28.500.000 đ/m2. Ông Thơm cho bà Hoàng Anh xem Hợp đồng kinh tế số 18/HĐKT-CNQSDĐ ngày 23-2-2004 giữa Công ty Hồng Lan với ông Thơm. Ông Thơm còn dẫn bà Hoàng Anh đến Công ty Hồng Lan để xác minh nguồn gốc đất.
Sau khi xác minh đúng nguồn gốc và tính pháp lí của hai lô đất, ngày 23-12-2006, bà Hoàng Anh đặt cọc cho ông Thơm 250.000.000 đồng, thỏa thuận từ 23-2-2006 đến 20-1-2007 sẽ thanh toán đủ tiền mua đất cho ông Thơm.
Ngày 6-1-2007, ông Mừng và bà Hoàng Anh chuyển cho ông Thơm 4.111.500.000 đồng, cộng với 250.000.000 đồng đặt cọc là 4.361.500.000 đồng. Cùng ngày, ông Thơm kí hợp đồng kinh tế chuyển nhượng cho ông Mừng và bà Hoàng Anh hai lô đất diện tích 431 m2 với giá 30.500.000 đ/m2, nhưng hai bên thống nhất chỉ thanh toán 13.045.000.000 đồng. Trong hợp đồng nêu rõ ông Thơm có trách nhiệm đưa bà Hoàng Anh đến Công ty Hồng Lan làm thủ tục thanh lí hợp đồng cũ (kí ngày 23-2-2004) và làm lại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Mừng, bà Hoàng Anh. Đồng thời, trong tổng số tiền 4.361.500.000 đồng thỏa thuận ông Thơm được hưởng chênh lệch 761.500.000 đồng nếu hợp đồng được thực hiện, số còn lại ông Thơm phải trả cho Công ty Hồng Lan. Số tiền mua đất còn lại theo hợp đồng, ông Thơm yêu cầu vợ chồng ông Mừng trả trực tiếp cho Công ty Hồng Lan. Ngày 30-1-2007, bà Hoàng Anh đã chuyển cho Công ty Hoàng Lan 3.400.000.000 đồng. Ngày 11-7-2007 bà chuyển tiếp 4.000.000.000 đồng. Số tiền còn lại 1.283.500.000 đồng, ngày 11-7-2007 bà trực tiếp đến Công ty Hoàng Lan nộp tiền cho bà Trần Thị Thanh Thủy, kế toán của Công ty (tất cả hồ sơ chuyển tiền, nộp tiền còn lưu đầy đủ trong hồ sơ).
Như vậy, vợ chồng ông Mừng đã hoàn thành nghĩa vụ nộp tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Công ty Hồng Lan với tổng số 12.283.500.000 đồng, còn lại 761.500.000 đồng ông Thơm được hưởng theo thỏa thuận.
Sự lật lọng, dối trá của Công ty Hồng Lan
Tuy nhiên, giá đất tăng lên (giá cũ: 28.500.000 đ/m2, giá mới 50.000.000 đ/m2) nên mặc dù ông Mừng, bà Hoàng Anh đã thanh toán đầy đủ tiền mua đất theo hợp đồng, Công ty Hồng Lan vẫn nại ra nhiều lí do vô lí để phá vỡ hợp đồng, chiếm đoạt tài sản của người mua, như: Ông Thơm nộp tiền chậm, vi phạm hợp đồng thanh toán tiền, Công ty không thể giao quyền sử dụng đất cho ông Mừng, bà Hoàng Anh; Công ty Hồng Lan chỉ bán đất cho ông Thơm, không biết ông Mừng, bà Hoàng Anh là ai. Những lí do này đều bị các nhân chứng, vật chứng bác bỏ.
Để vu khống ông Thơm và gia đình ông Mừng nộp tiền chậm, Công ty Hồng Lan còn dùng dấu của thời điểm năm 2010 đóng vào tài liệu các năm 2004-2007 nhằm hợp pháp hóa chứng từ trước cơ quan điều tra. Đây là hành động giả mạo giấy tờ, cần được xử lí nghiêm theo Bộ luật Hình sự.
Cần thực hiện công lí
Trước sự dối trá của Công ty Hồng Lan, gia đình ông Mừng, bà Hoàng Anh đã khởi kiện vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ra Toà. Cả hai cấp tòa án quận Tây Hồ và thành phố Hà Nội xét xử vụ án đều khẳng định: Các hợp đồng chuyển nhượng đất giữa gia đình ông Mừng, bà Hoàng Anh với ông Trần Văn Thơm và Công ty Hồng Lan là hoàn toàn minh bạch, hợp pháp. Gia đình ông Mừng, bà Hoàng Anh đã thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, đúng hạn việc trả tiền cho Công ty Hồng Lan. Tòa buộc Công ty Hồng Lan thanh toán trả cho bà Lưu Thị Hoàng Anh, ông Phạm Xuân Mừng số tiền đã nhận là 12.283.500.000 đồng, bồi thường thiệt hại do lỗi làm hợp đồng vô hiệu là 121.660.000.000 đồng. Ghi nhận Công ty Hồng Lan đã chuyền trả bà Hoàng Anh 12.283.500.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường 121.666.000.000 đồng. Cấm Công ty Hồng Lan chuyển giao dịch quyền về tài sản đối với hai lô đất số 32, 33 khu D3, B1 vườn Đào, đường Lạc Long Quân, phường Phú Thượng, Tây Hồ, Hà Nội.
Ngày 16-2-2012, Chi cục Thi hành án quận Tây Hồ đã ra Quyết định số 25D/QĐ-CCTHA-DS buộc Công ty Hồng Lan phải thi hành các nội dung nói trên do TAND TP Hà Nội đã tuyên ngày 30-12-2011.
Tuy nhiên, Công ty Hồng Lan không chấp hành bản án, gửi đơn đến các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương xuyên tạc bản chất vụ án. Ngày 28-2-2012, TAND Tối cao ra quyết định “Tạm hoãn thi hành án 90 ngày”. Dư luận đang đặt dấu hỏi: Đằng sau quyết định tạm hoãn này là ai, với mục đích gì?
Lê Hữu Quế