Hồi ấy, tôi chưa phải là Chủ nhiệm CLB thơ, lại kém ông sáu, bảy tuổi nhưng ông bạn thơ “đặc biệt” không câu nệ, thỉnh thoảng rủ vài ba bạn thơ đến nhà tôi giao lưu. Một lần có dịp ngồi đối diện với Đỗ Cường tại nhà riêng, thoáng nhìn gương mặt không bình thường của ông, tôi ái ngại, dè dặt hỏi: “Anh bị hỏng mắt trong chiến tranh?”. Ông trả lời: “Vâng, tôi là thương binh nặng, được Ban giám định Y khoa xếp thương binh loại I, mất 81% sức khoẻ”.
Trong trận truy kích Sòng Cạn năm 1953 ở phía Tây Nam tỉnh Ninh Bình, Đỗ Cường là Tiểu đội trưởng Tiểu đội Xung kích. Khi ông vừa bắn hạ một tên địch đang quan sát các mũi tấn công của ta thì bất ngờ một viên đạn xuyên qua mặt làm ông ngất lịm. Bị mất mũi, hai mắt đều mù, khuôn mặt biến dạng, ông được chuyển về Bệnh viện K72 ở Thanh Hoá. Sau 4 tháng điều trị, sức khoẻ hồi phục, mắt bên phải sáng lại, Đỗ Cường đi tìm gặp đồng chí Nguyễn Xuân, Chính trị viên, Bệnh viện phó xin được giao việc. Ông được giao tài liệu, soạn bài để trở thành một giáo viên chính trị giảng bài cho anh em thương binh nặng. Vì thạo tiếng Pháp, ông lại được giao nhiệm vụ quản lí đội tù binh Pháp đang điều trị ở Bệnh viện.
Đầu năm 1955, thương binh nặng được đưa về Viện Quân y 108, Hà Nội. Đỗ Cường được bác sĩ Sô-tê, chuyên gia nổi tiếng về Răng - Hàm - Mặt của CHDC Đức phẫu thuật chỉnh hình. Sau 9 tháng điều trị, mặc dù mắt phải sáng bình thường, sức khoẻ hồi phục nhưng ông phải qua hàng chục lần phẫu thuật chỉnh hình rất đau đớn. Vì phải vá một miếng ở trán, mũi bị chỉnh sửa, mắt trái chỉ còn là một hố sâu luôn phải che đậy nên khuôn mặt ông có phần dị dạng. Tuy nhiên, so với nhiều liệt sĩ phải nằm lại ở chiến trường, ông vẫn thấy mình may mắn, hạnh phúc.
Là thương binh thuộc diện được Nhà nước bảo trợ suốt đời, nhưng ông đã xin Ban giám định cho xuống loại II để tiếp tục công tác. Ông nói với họ: “Mắt phải của tôi rất tốt, tôi muốn được làm việc”.
Tháng 12-1956, ông được về đơn vị cũ làm việc ở Ban Tham mưu Sư đoàn 320, với chức vụ Trung đội phó, đóng quân ở tỉnh Hải Dương.
Đỗ Cường đã xin cơ quan cho theo học lớp hội hoạ dân lập để phát huy năng khiếu. Một tuần hai buổi từ Hải Dương, ông tự túc xe lên Hà Nội học vẽ thầy Phạm Song. Ông trở thành hoạ sĩ nghiệp dư, say mê vẽ tranh về Bác Hồ, về cầu Long Biên, Hồ Gươm…
Năm 1959, Đỗ Cường được điều động về Bảo tàng Cách mạng, phụ trách trang trí, ở đây ông may mắn được gặp Bác lần đầu.
Lần thứ hai, khi Bác Hồ đến thăm Bảo tàng đã vào phòng làm việc của ông ân cần dặn dò: “Làm một quần chúng tốt còn hơn là một đảng viên tồi”. Lời dạy của Bác càng tăng thêm sức mạnh cho ông sống, phấn đấu và cống hiến. Từ Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, do yêu cầu công tác, ông được chuyển về Bảo tàng Quân đội, sang Tổng cục Lâm Nghiệp, về Bộ Vật tư… ở đâu ông cũng làm việc, phấn đấu hết mình, cống hiến trí tuệ, sức lực cho đất nước. Ông quên đi mặc cảm thương binh nặng, chỉ tâm niệm làm sao cho xứng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.
Trong cuộc sống gia đình, ông là người hạnh phúc. Người vợ trước trẻ trung, xinh đẹp, sinh cho ông bốn người con chẳng may bị tai nạn mất sớm. Bà vợ kế đảm đang, tháo vát, tự nguyện chia sẻ gánh nặng gia đình với ông cũng sinh thêm cho ông hai người con trai. Vợ chồng ông với sáu người con luôn sống đầm ấm, vui vẻ, hoà thuận.
Hài lòng với cuộc sống gia đình, sự đổi thay của xã hội, ông Đỗ Cường thả hồn vào thơ, là thành viên tích cực có nhiều đóng góp cho CLB thơ Tương Mai. Thơ ông có nhiều trong các tập “Tương Mai thơ” xuất bản hằng năm và đăng trên một số tờ báo. Với ông luôn sáng lên tình cảm, tinh thần, nghị lực sống của Bộ đội Cụ Hồ.
Nguyễn Thị Mỹ Dung