Lão Tử dạy: "Lo thắng người thì loạn. Lo thắng mình thì an". Có những thứ chỉ mở mắt không thấy được, phải mở lòng mới thấy. Đại vương Trần Hưng Đạo viết: "Hiểu được mình là anh. Thắng được mình là hùng" quả chí lí và sâu sắc.
Hiểu mình luôn kèm với rèn mình. Khổng Tử dạy: "Tu thân-Tề gia-Trị quốc - Bình thiên hạ". Ngài coi cộng đồng nhỏ là gia đình. Gia đình giữ vai trò cầu nối giữa bản thân với cộng đồng lớn quốc gia, quốc tế. Tu thân là rèn luyện bản thân. Tề gia là giữ hoà thuận gia đình mình. Trị quốc bình thiên hạ là trách nhiệm với Tổ quốc. Tu thân để đạt chính nhân quân tử. Quân tử là tiêu chí đạo đức, nhân cách của những người biết sống có đạo. Người quân tử thấy sai thì sửa chứ không bội ước. Chết cho cái chí của mình chứ quyết không đem cái chí của mình làm nô lệ. Chịu chết chứ không chịu nhục, không chịu làm điều ác. Không xu phụ quyền thế. Không khiếp sợ uy vũ. Tìm minh chủ tôn phò chứ quyết không luồn cúi kẻ thất phu. Coi trọng tình nghĩa, không tham lam vật chất. Nhân hậu, khoan dung, không để bụng những sai lầm của người khác. Lấy trung thành, tín, thật làm chủ đích. Người quân tử buồn vì không có khả năng chứ không buồn vì người khác không biết đến mình. Người quân tử không vì lời nói của người mà dùng người, cũng không bỏ người vì lời nói của họ. Người quân tử cho rằng nếu làm điều gì không ngay thẳng thì dù nhìn thấy đứa trẻ con cũng nơm nớp lo sợ. Nếu không làm điều gì khuất tất thì dẫu trước ngàn vạn binh đao cũng vẫn ung dung thanh thản. Người quân tử hàng ngày tự xét mình nhiều lần, thấy không làm điều gì xấu thì không phải lo. Người quân tử thản nhiên thư thái, thắng không kiêu, bại không nản, nhiều khi lấy bại làm vinh chứ không coi là nhục nếu mục đích việc làm đó cao cả. Người quân tử không nghĩ điều ác, không nói lời ác, không làm việc ác. Người quân tử oán lớn cũng quên, nhưng ơn nhỏ cũng nhớ. Người quân tử dù bị người phụ chứ không phụ người. Người quân tử phù suy, không phù thịnh và cho rằng cảm phục, học được ở người thất bại nhiều hơn ở kẻ thành công. Vẻ đăm chiêu của người thất bại có chiều sâu nội tâm và toát lên sự đau khổ cao quý. Còn gương mặt kẻ thành công chỉ đầy tự mãn, thậm chí kiêu ngạo. Người quân tử coi bản thân là cái gốc của gia đình. Gia đình là cái căn bản của xã hội. Việc nước chẳng qua là việc nhà mở rộng. Có tu thân mới tề gia trị quốc bình thiên hạ được. Bởi thế tu thân là nền tảng của đạo. Phàm ở đời cái gì gắn với nhân cách đều có đạo. Văn có đạo văn, võ có đạo võ, nghề nào có đạo của nghề ấy,cây bút, thanh kiếm, đồng tiền, cây đàn, cho đến thưởng trà, thưởng rượu, hiếu, hỉ, cương, nhu, nhẫn, nộ ... đều mang hồn của đạo. Có người chỉ biết nghề mà không hiểu đạo của nghề. Cầm trong tay cây bút, thanh kiếm, đồng tiền mà không hiểu đạo của cây bút, thanh kiếm, đồng tiền. Có hai loại "chính đạo" và "tà đạo". Ứng với "chính đạo" là chính tâm. Ứng với "tà đạo" là tà tâm. Phải phân biệt để hướng "chính đạo "loại" tà đạo". Bao trùm là "Đạo làm người". Đó là Đại đạo. Trong Đại đạo gồm nhiều tiểu đạo. Với Tổ quốc : Đạo trung; với tổ tiên, ông bà, cha mẹ: Đạo hiếu; với vợ chồng: Đạo nghĩa; với anh chị em: Đạo đễ; với con cháu: Đạo từ; với thày cô giáo: Đạo sư phụ; với bầu bạn: Đạo hữu; với đồng loại: Đạo nhân... Sống phải có đạo.Vô đạo không phải sống mà chỉ là tồn tại. Hàn Phi Tử viết: "Mắt không nhìn thấy mặt mình được nên phải lấy gương để soi. Cái khôn không tự biết mình được nên phải lấy cái đạo để sửa mình. Cái gương không có tội vì đã thấy những chỗ sẹo. Cái đạo không có thù oán vì đã làm rõ cái sai. Con mắt không có gương thì không thể dựa vào cái gì để sửa râu mày. Con người không có đạo thì không biết dựa vào đâu để sửa nhân cách".
Đạo làm người rất trọng nhân cách.
Nhân cách là biểu tượng giá trị cuộc sống mỗi người. Cao thượng hay thấp hèn, quân tử hay tiểu nhân đều thể hiện ở nhân cách. Có thể mất mọi thứ nhưng không thể mất nhân cách. Lịch sử đã để lại không ít gương sáng của những nhân cách lớn: Triều Tây Hán, Tiêu Hà giữ chức Tể tướng phò Lưu Bang. Năm 206 trCN giúp Lưu Bang đánh chiếm Hàm Dương, kinh đô nước Tần.. Vàng bạc châu báu, gác tía lầu son, mĩ nữ tuyệt sắc giai nhân không làm ông rung động. Ông lệnh cho thuộc hạ phải thu thập, bảo quản toàn bộ hồ sơ lưu trữ đem đến cho ông đọc. Nhờ thế ông nắm được mọi tình hình từ đất đai, địa hình sông núi, dân số lao động, kinh tế, chính trị, văn hoá, phong tục tập quán... giúp Lưu Bang hoạch định kế sách trị quốc.
Xét thấy Tiêu Hà có nhiều công lớn, suốt đời thanh bạch, vua Hán Cao Tổ ban lệnh cho Tiêu Hà được chọn vùng đất nào trù phú để vua ban. Chần chừ mãi, nhà vua thúc ép Tiêu Hà mới chọn mảnh đất cằn cỗi ở vùng quê hẻo lánh dựng nhà cho gia đình mình. Nhà rất bình thường, chẳng có tường bao, cổng kín. Bạn bè không hiểu ý ông, hỏi, Tiêu Hà đáp: "Tôi thân làm Tể tướng, nếu vì xây dựng nhà riêng mà phải đuổi dân đi nơi khác thì sao xứng đáng là Tể tướng. Tôi chọn nơi đất cằn này sống sẽ có rất nhiều điều lợi. Thứ nhất, là giáo dục con cháu phải biết lao động cần cù và tiết kiệm, chúng sẽ sớm trở thành người lương thiện. Hai là, không phải lo nghĩ về sau con cháu tranh giành của cải, cũng chẳng lo kẻ có quyền thế cướp đoạt." . Con cháu của Tiêu Hà tuân theo lời ông dạy luôn giữ được nếp sống nghèo mà trong sạch, yên phận giữ mình không màng danh lợi. Bởi thế trong cuộc đấu tranh giành quyền lực nhiều công thần khác như Hàn Tín, Bành Việt đều gặp họa bị chết thê thảm nhưng gia đình dòng tộc Tiêu Hà vẫn bình yên vô sự. (Kì sau tiếp)
Đắc Trung